Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự

06/08/2024
Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự

Việc định giá tài sản, thẩm định giá tài sản được thực hiện trong trường hợp tổ chức, cá nhân có nhu cầu định giá, thẩm định giá tài sản. Để hiểu rõ hơn về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật, quý bạn đọc hãy cùng Luật Emerald tìm hiểu nhé.

1. Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản là gì?

Theo khoản 11 Điều 4 Luật Giá 2023, Định giá là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực hiện xác định giá của hàng hóa, dịch vụ.

Theo quy định tại khoản 16 Điều 4 của Luật Giá 2023, Thẩm định giá là hoạt động tư vấn xác định giá trị của tài sản thẩm định giá tại một địa điểm, thời điểm, phục vụ cho mục đích nhất định do doanh nghiệp thẩm định giá, hội đồng thẩm định giá thực hiện theo Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam.

Tài sản thẩm định giá bao gồm tài sản, hàng hóa, dịch vụ, được cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu thẩm định giá theo nhu cầu hoặc các trường hợp pháp luật quy định phải thẩm định giá.

Từ quy định trên có thể thấy rằng, định giá tài sản và thẩm định giá tài sản đều là phương thức nhằm để xác định giá trị của một tài sản. Tuy nhiên, thẩm định giá tài sản thì sẽ được tổ chức thẩm định giá thực hiện theo Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam, còn định giá tài sản thì sẽ do cơ quan nhà nước hoặc do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực hiện.

Bên cạnh đó, theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản được coi như là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá tài sản được tiến hành theo đúng như thủ tục luật định. Do đó, có thể thấy được rằng định giá, thẩm định giá tài sản là một trong những biện pháp để đương sự cũng như những người tham gia tố tụng khác xác minh, thu thập chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nhất là đối với những vụ án có liên quan đến tài sản, quyền tài sản.

2. Quy định về thẩm định giá trong tố tụng dân sự

Theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Các đương sự có quyền thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để thực hiện việc thẩm định giá tài sản và cung cấp kết quả thẩm định giá cho Tòa án. Việc thẩm định giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về thẩm định giá tài sản.

 Trình tự, thực hiện thẩm định giá tài sản được quy định như sau:

Bước 1: Khi các bên đương sự cùng yêu cầu Tòa án yêu cầu tổ chức thẩm định giá định giá tài sản thì phải nêu cụ thể tên tổ chức thẩm định giá đó.

Trường hợp có đương sự yêu cầu Tòa án yêu cầu một tổ chức thẩm định giá tài sản tiến hành thẩm định giá, thì Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự khác trong vụ án dân sự biết.

Yêu cầu của đương sự phải được thực hiện bằng văn bản, có chữ ký của người yêu cầu và giấy tờ, tài liệu chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá theo quy định của pháp luật của tổ chức thẩm định giá đó.

Bước 2: Toà án ban hành văn bản yêu cầu tổ chức thẩm định giá tiến hành thẩm định giá tài sản đang tranh chấp.

Bước 3: Tổ chức thẩm định giá trả lời bằng văn bản về việc đồng ý tiến hành định giá tài sản. Ngay sau khi nhận được văn bản trả lời về việc đồng ý tiến hành định giá tài sản của tổ chức thẩm định giá, Tòa án phải thông báo cho các bên đương sự để tiến hành thủ tục theo yêu cầu của tổ chức thẩm định giá tài sản theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp tổ chức thẩm định giá từ chối thẩm định giá tài sản thì Tòa án thông báo cho đương sự biết để lựa chọn tổ chức thẩm định giá khác.

Bước 4: Tổ chức thẩm định giá tiến hành thủ tục thẩm định giá theo quy định pháp luật về thẩm định giá tài sản.

Bước 5: Ngay sau khi có kết quả thẩm định giá, tổ chức thẩm định giá tài sản gửi kết quả thẩm định giá cho Toà án. Sau đó, Tòa án thông báo kết quả định giá cho các bên đương sự có liên quan đến việc định giá tài sản.

(Trước đây thông tư liên tịch 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC quy định về việc thẩm định giá tài sản. Nhưng hiện nay, văn bản này đã hết hiệu lực và không có văn bản nào thay thế. Nên bài viết này tham khảo tinh thần quy định thẩm định giá tài sản của thông tư trên)

 

3. Quy định về định giá trong tố tụng dân sự

Khoản 3, 4, 5 Điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, định giá trong tố tụng dân sự được quy định như sau:

– Tòa án ra quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

 + Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự;

 + Các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá tài sản;

 + Các bên thỏa thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá.

– Trình tự, thủ tục thành lập Hội đồng định giá, định giá tài sản được quy định như sau:

+ Hội đồng định giá do Tòa án thành lập gồm Chủ tịch Hội đồng định giá là đại diện cơ quan tài chính và thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn có liên quan. Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người được quy định tại Điều 52 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 không được tham gia Hội đồng định giá.

Hội đồng định giá chỉ tiến hành định giá khi có mặt đầy đủ các thành viên của Hội đồng. Trong trường hợp cần thiết, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản định giá được mời chứng kiến việc định giá. Các đương sự được thông báo trước về thời gian, địa điểm tiến hành định giá, có quyền tham dự và phát biểu ý kiến về việc định giá. Quyền quyết định về định giá đối với tài sản định giá thuộc Hội đồng định giá;

+ Cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan có trách nhiệm cử người tham gia Hội đồng định giá và tạo điều kiện để họ làm nhiệm vụ. Người được cử làm thành viên Hội đồng định giá có trách nhiệm tham gia đầy đủ vào việc định giá.

Trường hợp cơ quan tài chính, các cơ quan chuyên môn không cử người tham gia Hội đồng định giá thì Tòa án yêu cầu cơ quan quản lý có thầm quyền trực tiếp chỉ đạo cơ quan tài chính, cơ quan chuyên môn thực hiện yêu cầu của Tòa án. Người được cử tham gia Hội đồng định giá không tham gia mà không có lý do chính đáng thì Tòa án yêu cầu lãnh đạo cơ quan đã cử người tham gia Hội đồng định giá xem xét trách nhiệm, cử người khác thay thế và thông báo cho Tòa án biết để tiếp tục tiến hành định giá;

+ Việc định giá phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ ý kiến của từng thành viên, đương sự nếu họ tham dự. Quyết định của Hội đồng định giá phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành. Các thành viên Hội đồng định giá, đương sự, người chứng kiến ký tên hoặc điểm chỉ vào biên bản.

– Việc định giá lại tài sản được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết quả định giá lần đầu không chính xác hoặc không phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm giải quyết vụ án dân sự.

4. Nghĩa vụ chịu phí định giá tài sản, thẩm định giá tài sản

Trường hợp các bên đương sự không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản được quy định tại Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

– Đương sự phải chịu chi phí định giá tài sản nếu yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận;

– Trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì mỗi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí định giá tài sản tương ứng với tỷ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia;

– Trường hợp Tòa án ra quyết định định giá tài sản quy định tại điểm c khoản 3 Điều 104 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản được xác định như sau:

+ Đương sự phải chịu chi phí định giá tài sản quy định tại khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nếu kết quả định giá chứng minh quyết định định giá tài sản của Tòa án là có căn cứ;

+ Tòa án trả chi phí định giá tài sản nếu kết quả định giá tài sản chứng minh quyết định định giá tài sản của Tòa án là không có căn cứ.

– Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì nguyên đơn phải chịu chi phí định giá tài sản.

Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí định giá tài sản.

– Các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá thì người yêu cầu định giá tài sản phải chịu chi phí định giá tài sản.

 Nghĩa vụ chịu chi phí thẩm định giá tài sản của đương sự được thực hiện như nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản như đã nêu trên, trừ trường hợp sau:

– Trường hợp Tòa án ra quyết định định giá tài sản quy định tại điểm c khoản 3 Điều 104 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì nghĩa vụ chịu chi phí định giá tài sản được xác định như sau:

+ Đương sự phải chịu chi phí định giá tài sản quy định tại khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nếu kết quả định giá chứng minh quyết định định giá tài sản của Tòa án là có căn cứ;

+ Tòa án trả chi phí định giá tài sản nếu kết quả định giá tài sản chứng minh quyết định định giá tài sản của Tòa án là không có căn cứ.

Mỹ Duyên

Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản trong tố tụng dân sự”Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn pháp luật