Làm sao để đòi tiền cấp dưỡng cho con

06/05/2024
Làm sao để đòi tiền cấp dưỡng cho con

Gửi Luật Emerald, tôi có vấn đề thắc mắc như sau: Tôi và chồng ly hôn năm 2017, chồng tôi ở Bình Thuận, tôi ở Đồng Nai, chúng tôi có một con chung, thơi điểm ly hôn con được 3 tuổi. Theo Thỏa thuận ly hôn thì chồng tôi chu cấp mỗi tháng 3 triệu tiền nuôi dưỡng, nhưng từ khi ly hôn đến nay chồng tôi không chu cấp tiền nuôi dưỡng cho con. Vậy tôi phải làm thế nào để đòi tiền cấp dưỡng cho con từ năm 2017 đến nay ạ. Mong công ty giải đáp giúp tôi, tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Chị Hạnh

Trả lời

Chị và anh đã ly hôn từ 2017, có thỏa thuận ly hôn sẽ chu cấp mỗi tháng 3 triệu tiền nuôi dưỡng, tức là đã có bản án có hiệu lực pháp luật. Do đó, để đòi được tiền cấp dưỡng cho con thì cần có Đơn yêu cầu thi hành án gửi đến Cơ quan thi hành án.

1. Về điều kiện để được thi hành án 

Căn cứ theo Điều 36 Luật Thi hành án dân sự hiện hành, trường hợp của chị cơ quan thi hành án chỉ ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu từ người được thi hành án (ở đây là chị). Vì vậy trước tiên chị cần phải đến cơ quan thi hành án để yêu cầu ra quyết định thi hành án. 

Tuy nhiên, Điều 30 Luật này cũng quy định về thời hiệu thi hành án như sau:

“1. Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

3. Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.”

Thời hạn 05 năm trong trường hợp của chị được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn. Từ 2017 đến nay đã quá 05 năm, nên mặc dù chị vẫn có thể yêu cầu thi hành án từ kỳ đến hạn đầu tiên mà chồng chị không thực hiện nghĩa vụ chu cấp từ năm 2017 đến nay, nếu chồng chị yêu cầu cơ quan thi hành án áp dụng thời hiệu thì thời gian thi hành án mà chồng chị phải chịu sẽ tính trong vòng 05 năm kể từ thời điểm chị yêu cầu thi hành án. 

Lưu ý: Nếu chứng minh được khoảng thời gian quá thời hạn yêu cầu thi hành án là do trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng thì thời gian đó sẽ không tính vào thời hiệu thi hành án, tức là chồng chị vẫn phải thi hành án cho thời gian đó.

2. Tự nguyện thi hành án

Theo quy định tại Điều 45, 46 Luật Thi hành án dân sự hiện hành,chồng chị có thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án để tự nguyện thi hành án. Hết thời hạn này chồng chị sẽ bị cưỡng chế thi hành án. 

Hết thời hạn trên mà chồng chị vẫn không thực hiện thi hành án, chị có thể đến cơ quan thi hành án để thông báo và yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà chồng chị không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên sẽ thực hiện xác minh điều kiện thi hành án.

3. Cưỡng chế thi hành án

a. Cưỡng chế thi hành án trong trường hợp có điều kiện thi hành án

Sau khi xác định chồng chị có điều kiện để thi hành án mà vẫn cố tình không thi hành án thì có thể sẽ bị áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án bằng những biện pháp sau:

– Biện pháp bảo đảm: 

+ Phong tỏa tài khoản;

+ Tạm giữ tài sản, giấy tờ;

+ Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản.

– Biện pháp cưỡng chế: 

+ Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án;

+ Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;

+ Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ;

+ Khai thác tài sản của người phải thi hành án;

+ Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ;

+ Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.

Trong trường hợp đã áp dụng biện pháp cưỡng chế mà chồng chị vẫn có thái độ không hợp tác, cản trở thì có thể phải chịu xử phạt hành chính từ 500.000 đồng đến 40.000.000 đồng (quy định tại Điều 64 Nghị định 82/2020/NĐ-CP) hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt tù từ 03 tháng đến 05 năm, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (Điều 380 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017). 

b. Cưỡng chế thi hành án trong trường hợp chưa có điều kiện thi hành án

Căn cứ Điều 44, 45 Luật Thi hành án dân sự hiện hành, khoản 6 Điều 9 Văn bản hợp nhất 1357/VBHN-BTP 2020 Nghị định hướng dẫn Luật Thi hành án dân sự:

Sau khi xác minh chồng chị chưa có điều kiện thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án. Sau khi có quyết định này, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành án trở lại thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án.

Chưa có điều kiện thi hành án là thuộc một trong các trường hợp sau đây: 

– Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án;

– Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác;

– Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án, người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng.

Vì vậy, nếu chồng chị chưa có điều kiện thi hành án thì phải đợi đến lúc chồng chị có điều kiện rồi thì mới có thể theo thỏa thuận ban đầu chu cấp cho con chị 3 triệu mỗi tháng như trong thỏa thuận ly hôn. 

Trên đây là câu trả lời của Luật Emerald, cảm ơn chị đã gửi câu hỏi đến với chúng tôi. Nếu chị còn thắc mắc hoặc không rõ chị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc tiếp tục gửi câu hỏi đến website qua emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com.

Tư vấn pháp luật