Một trong những nhiệm vụ của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự là tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Vậy phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải trong tố tụng dân sự được quy định như thế nào? Để hiểu rõ hơn về vấn đề này theo quy định của pháp luật, quý bạn đọc hãy cùng Luật Emerald tìm hiểu nhé.
1. Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
Tại Điều 208 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS) quy định về việc thông báo và tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các bên trong vụ án dân sự. Cụ thể như sau:
– Thông báo phiên họp: Trước khi phiên họp diễn ra, Thẩm phán phải thông báo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự và người bảo vệ quyền lợi của họ về thời gian, địa điểm, và nội dung phiên họp.
– Trường hợp không hòa giải: Nếu vụ án dân sự không thể hòa giải hoặc không được hòa giải (theo Điều 206 và 207 BLTTDS), Thẩm phán vẫn phải tiến hành phiên họp kiểm tra chứng cứ mà không cần tiến hành hòa giải.
– Đối với vụ án hôn nhân gia đình liên quan đến người chưa thành niên: Trước khi mở phiên họp, Thẩm phán phải thu thập tài liệu và chứng cứ để xác định nguyên nhân tranh chấp. Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến từ các cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em khi cần.
– Đối với vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ 7 tuổi trở lên, trường hợp cần thiết có thể mời đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em chứng kiến, tham gia ý kiến. Việc lấy ý kiến của con chưa thành niên và các thủ tục tố tụng khác đối với người chưa thành niên phải bảo đảm thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành, khả năng nhận thức của người chưa thành niên, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, giữ bí mật cá nhân của người chưa thành niên.
2. Thành phần tham dự phiên họp
Thành phần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải trong các vụ án dân sự được quy định tại Điều 209 BLTTDS, cụ thể như sau:
2.1. Thành phần tham gia phiên họp:
– Thẩm phán: Người chủ trì phiên họp.
– Thư ký Tòa án: Ghi biên bản phiên họp.
– Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
– Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động: Trong các vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động, trừ khi vụ án đã có tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động. Nếu đại diện tổ chức không tham gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn bản.
– Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có).
– Người phiên dịch (nếu có).
2.2. Trường hợp cần thiết:
– Thẩm phán có thể yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên họp.
– Trong các vụ án hôn nhân và gia đình, Thẩm phán có thể yêu cầu đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia phiên họp. Nếu họ vắng mặt, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
2.3. Xử lý khi có đương sự vắng mặt:
– Trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt;
– Nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp. Thẩm phán phải thông báo việc hoãn phiên họp và việc mở lại phiên họp cho đương sự.

3. Trình tự của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
Trình tự tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải trong các vụ án dân sự được quy định tại Điều 210 BLTTDS cụ thể như sau:
3.1. Trước khi tiến hành phiên họp
– Thư ký Tòa án báo cáo Thẩm phán về tình hình có mặt và vắng mặt của những người đã được thông báo tham gia phiên họp.
– Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia, đồng thời phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật.
3.2. Trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải
– Thẩm phán: Phổ biến các quy định pháp luật liên quan và phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để các đương sự tự nguyện thỏa thuận.
– Nguyên đơn và người bảo vệ quyền lợi của họ: Trình bày nội dung tranh chấp, bổ sung, thay đổi yêu cầu khởi kiện, đưa ra căn cứ bảo vệ và đề xuất quan điểm về các vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có).
– Bị đơn và người bảo vệ quyền lợi của họ: Trình bày ý kiến của mình về yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu phản tố của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có)
– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền lợi của họ: Trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; trình bày yêu cầu độc lập của mình (nếu có); những căn cứ để phản đối yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn; những căn cứ để bảo vệ yêu cầu độc lập của mình và đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);.
– Người khác tham gia phiên họp hòa giải (nếu có): Phát biểu ý kiến.
– Sau khi các bên trình bày xong, Thẩm phán xác định những vấn đề đã và chưa thống nhất, yêu cầu các bên trình bày bổ sung nếu cần.
– Kết luận: Thẩm phán đưa ra kết luận về những vấn đề đã và chưa thống nhất.
3.3. Trường hợp các bên hòa giải thành
– Thời hạn ra quyết định:
+ Sau khi lập biên bản hòa giải thành, nếu trong vòng 07 ngày không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận, Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải (hoặc Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công) phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
+ Quyết định này phải được gửi cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp trong vòng 05 ngày làm việc kể từ khi ra quyết định.
– Điều kiện ra quyết định: Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận nếu các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
– Thỏa thuận của các đương sự vắng mặt:
+ Trong trường hợp một số đương sự vắng mặt nhưng những người có mặt đã thỏa thuận với nhau, thỏa thuận đó chỉ có giá trị nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt.
+ Nếu thỏa thuận có ảnh hưởng đến đương sự vắng mặt, Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận khi có văn bản đồng ý của đương sự vắng mặt.
– Hiệu lực pháp luật: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực ngay khi được ban hành và không thể bị kháng cáo hay kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
– Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm: Quyết định này chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận được thực hiện do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, hoặc vi phạm điều cấm của luật, hoặc trái đạo đức xã hội.
– Án phí hòa giải thành: Đương sự chỉ phải chịu 50% mức án phí sơ thẩm.
3.4. Trường hợp các bên không thể hòa giải hoặc không được hòa giải
Ngoài trường hợp các đương sự có mặt tại buổi hòa giải không thể thống nhất ý kiến giải quyết vụ án để hòa giải thì BLTTDS 2015 cũng có quy định thêm các trường hợp không tiến hành hòa giải được tại Điều 207 như sau:
– Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.
– Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng.
– Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.
– Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải.
Đồng thời, Điều 206 BLTTDS quy định trường hợp những vụ án dân sự không được hòa giải là:
– Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.
– Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.
Trong những trường hợp này Tòa án sẽ tiếp tục Phiên họp công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải nữa.

3.5. Trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
Khi kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thẩm phán công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hỏi đương sự về những vấn đề sau đây:
– Yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết;
– Tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án và việc gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác;
– Bổ sung tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ; yêu cầu Tòa án triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa;
– Những vấn đề khác mà đương sự thấy cần thiết.
Xem xét và giải quyết yêu cầu:
– Sau khi các đương sự trình bày xong, Thẩm phán xem xét các ý kiến và giải quyết các yêu cầu liên quan.
– Nếu người được triệu tập vắng mặt, Tòa án sẽ thông báo kết quả phiên họp cho họ.
4. Biên bản của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
Thư ký Tòa án khi tham gia phiên họp phải lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản về việc hòa giải.
Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải.
Lưu ý: Biên bản phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia phiên họp, chữ ký của Thư ký Tòa án ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên họp. Những người tham gia phiên họp có quyền được xem biên bản ngay sau khi kết thúc phiên họp, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản và ký xác nhận hoặc điểm chỉ.
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.