Quyền lợi của người lao động khi công ty chấm dứt hoạt động kinh doanh, sản xuất

30/12/2025
Quyền lợi của người lao động khi công ty chấm dứt hoạt động kinh doanh, sản xuất

Nhiều người dân ở TP.HCM lo lắng khi một doanh nghiệp FDI chấm dứt hoạt động kinh doanh, sản xuất sau 23 năm hoạt động. Theo thông tin mới nhất, ngày 23.12, Công ty TNHH Panko Vina (Khu công nghiệp Mỹ Phước 1, phường Bến Cát, TP.HCM) đã phát thông báo về việc chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh. Thông tin này khiến nhiều công nhân lao động không khỏi hụt hẫng khi Tết Nguyên đán đang cận kề và phải đối mặt với áp lực tìm kiếm việc làm mới sau Tết.

Vậy công nhân được hưởng quyền lợi gì khi công ty chấm dứt hoạt động kinh doanh, sản xuất?

Điều 48 Bộ luật Lao động 2019 quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động phải thanh toán các khoản tiền bao gồm tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác của người lao động…

Theo đó, ngoài việc trả tiền lương theo hợp đồng, trợ cấp thôi việc, được xác nhận thời gian đóng BHXH thì công nhân vẫn được công ty chi trả trợ cấp mất việc làm do công ty suy thoái kinh tế.

Tại Điều 47 Bộ luật Lao Động 2019 quy định “Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm do NSDLĐ cho thôi việc vì lý do suy thoái kinh tế hay thay đổi cơ cấu, công nghệ thì cứ mỗi năm làm việc người lao động được trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương”.

Ví dụ: Chị A đã làm việc cho công ty X được 15 năm, tham gia bảo hiểm thất nghiệp 12 năm và chưa được chi trả trợ cấp mất việc làm lần nào. Công ty đã có chính sách thay đổi mức lương từ tháng 8/2025, cụ thể đối với người lao động có tay nghề bậc A với mức lương: 11.420.000 đồng/tháng và chị A thuộc đối tượng trên.

Theo đó, mức trợ cấp mất việc làm được tính như sau:

Mức hưởng trợ cấp mất việc làm

= Thời gian tính hưởng trợ cấp mất việc làm x

Tiền lương tính hưởng trợ cấp mất việc

Căn cứ theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định:

– Thời gian hưởng trợ cấp = Tổng thời gian làm việc thực tế (1) – Thời gian đã tham gia BHTN (2) – Thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc, mất việc (3)

– Tiền lương tháng tính hưởng trợ cấp mất việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề căn cứ theo hợp đồng lao động trước khi chấm dứt hợp đồng cuối cùng

Vậy:

– Thời gian được chi trả trợ cấp mất việc của chị A = 15 năm – 12 năm = 3 năm

– Mức hưởng trợ cấp trợ cấp mất việc làm = 3 năm  x 11.420.000 = 34.260.000đ

Như vậy, trong trường hợp công ty chấm dứt hoạt động, Chị A vẫn có quyền yêu cầu công ty chi trả trợ cấp mất việc làm với số tiền 34.260.000 đồng, nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện theo Bộ luật Lao động 2019.

Nhưng nếu người sử dụng lao động không trả khoản trợ cấp mất việc làm thì người lao động phải làm gì để đòi quyền lợi chính đáng cho mình?

Theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định: “…Người lao động khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc,…”. Do đó, người lao động có thể khởi kiện để đòi các khoản trợ cấp nếu người sử dụng lao động không chịu chi trả. Đồng thời, khi người lao động khởi kiện đòi các khoản này sẽ được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí tại Tòa án.

Mặt khác, một vấn đề được đặt ra liệu những người công nhân này có được nhận lương tháng 13 hay không?

Về bản chất pháp lý, lương tháng 13 không phải là khoản tiền lương bắt buộc theo quy định của Bộ luật Lao động, mà được xem là tiền thưởng. Theo Điều 104 Bộ luật Lao động 2019, tiền thưởng là khoản tiền mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh và mức độ hoàn thành công việc của người lao động, và do người sử dụng lao động quyết định.

Khoản “lương tháng 13” thường được doanh nghiệp chi trả vào dịp cuối năm, phổ biến là tháng 12, và được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động. Việc chi trả khoản tiền này có thể được quy định tại:

  • Hợp đồng lao động;
  • Thỏa ước lao động tập thể;
  • Quy chế thưởng hoặc nội quy của doanh nghiệp;

Do đó, quyền được hưởng lương tháng 13 của người lao động không phát sinh một cách đương nhiên, mà phụ thuộc vào việc trong các văn bản nêu trên có quy định cụ thể hay không. Cụ thể:

+ Nếu trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc quy chế thưởng của công ty có quy định về việc chi trả lương tháng 13 thì người lao động vẫn có quyền yêu cầu công ty thực hiện nghĩa vụ này, kể cả trong trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động.

+ Ngược lại, nếu giữa các bên không có thỏa thuận hoặc công ty không ban hành quy chế, cam kết cụ thể về lương tháng 13, thì việc chi trả khoản tiền này không phải là nghĩa vụ bắt buộc theo pháp luật, mà phụ thuộc vào thiện chí và khả năng tài chính của doanh nghiệp.

Sau khi công ty thực hiện thanh toán đầy đủ các khoản theo thứ tự ưu tiên, bao gồm tiền lương, tiền công, trợ cấp thôi việc…cho người lao động nếu vẫn còn tài sản, thì các khoản tiền thưởng theo thỏa thuận, trong đó có lương tháng 13, sẽ được xem xét chi trả căn cứ vào nội dung hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc quy chế thưởng của doanh nghiệp.

Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về Quyền lợi của người lao động được hưởng khi công ty chấm dứt hoạt động kinh doanh, sản xuất. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn pháp luật