Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình

22/05/2024
Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình

Dạo một vòng quanh các nền tảng xã hội bên cạnh các tranh chấp về đất đai, vay/ mượn tiền thì Hôn nhân và gia đình là lĩnh vực mà người dân có sự quan tâm và đặt nhiều câu hỏi nhất. Chủ đề thu hút nhất chính vẫn là ly hôn trong đó giải quyết các yêu cầu liên quan như hôn nhân, chia tài sản, con chung và cấp dưỡng. Đó là khía cạnh dân sự của Hôn nhân và gia đình. Ngày hôm nay tôi xin liệt kê những vấn đề liên quan đến Hôn nhân và gia đình ở khía cạnh Hình sự.

Tại Chương XVII Bộ luật hình sự hiện hành có quy định “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” từ Điều 181 cho đến Điều 187.

Điều 181 “Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện”

Điều 182 “Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng”

Điều 183 “Tổi tổ chức tảo hôn”

Điều 184 “Tội loạn luân”. Vụ việc nổi bật là ngày 19/4, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Long An ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với ông Lê Tùng Vân (SN 1932), ngụ ấp lập Thành, xã Hòa Khánh Tây, huyện Đức Hòa để điều tra làm rõ về hành vi “Loạn luân”.

Điều 185 “Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình”.

Điều 186 “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng”

Điều 187 “Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại”

Điểm mới của Bộ Luật hình sự 2015 so với Bộ luật hình sự 1999 là:

– Tội phạm hóa 3 hành vi: Cưỡng ép ly hôn (Điều 181); Cản trở ly hôn (Điều 181); Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại (Điều 187).

– Phi tội phạm hóa hành vi tảo hôn, bởi vì, xét cho cùng thì thực trạng tảo hôn xảy ra chủ yếu do các nguyên nhân xã hội, sự tuyên truyền, giáo dục của gia đình, xã hội chưa có hiệu quả cao. Thậm chí có trường hợp tảo hôn do sức ép của người lớn, của cha mẹ. Do vậy, đối với hành vi này chỉ áp dụng chế tài hành chính để xử lý là phù hợp.

– Thu hút hành vi đăng ký kết hôn trái pháp luật vào tội danh đăng ký hộ tịch trái pháp luật (Điều 336).

– Hình sự hóa hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại (Điều 187).

– Cụ thể hóa một số tình tiết định tội tại một số điều luật: Ví dụ: tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Điều 181 về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã được cụ thể hóa thành các hậu quả như “làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn ”, “làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát” hoặc tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Điều 185 về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thành các hậu quả “Làm cho nạn nhân bị giày vò về mặt tình cảm, bị tổn thất danh dự, đau khổ tinh thần” hoặc “Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân”.

Sau đây xin trình bày dấu hiệu cơ bản Điều 182 “Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng”, có lẽ là tội phạm mọi người thắc mắc nhiều nhất.

1. Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm

Cũng như chủ thế của các tội phạm khác, chủ thể của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng cũng phải đảm bảo các yếu tố cần và đủ như: độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại các Điều 12, 13 Bộ luật hình sự quy định tại các Điều 12, 13 Bộ luật hình sự. Đối với tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng chỉ những người đủ 16 tuổi trở lên mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

Chủ thể của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng tuy không phải là chủ thể đặc biệt nhưng có một đặc điểm khác với chủ thể của các tội phạm khác ở chỗ: người phạm tội phải là người đang có vợ hoặc có chồng hoặc một trong hai người phải là người đang có vợ hoặc đang có chồng.

2. Các dấu hiệu thuộc mặt khách thể của tội phạm

Khách thể của tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng chính là chế độ một vợ, một chồng, là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình mà Luật hôn nhân và gia đình quy định; bảo vệ chế độ một vợ, một chồng khỏi bị xâm hại cũng chính là giữ vững nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia đình.

3. Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm

a) Hành vi khách quan

Người phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng có thể có một trong các hành vi sau: Đang có vợ hoặc có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác. Người đang có vợ hoặc có chồng là người đã kết hôn (kể cả hôn nhân thực tế được pháp luật thừa nhận) và chưa chấm dứt quan hệ hôn nhân.

Người đang có vợ hoặc có chồng là người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn; người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03-01-1987 và đang sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn; người sống chung với người khác như vợ chồng từ ngày 03-01-1987 đến ngày 01-01-2001 và đang sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn.

Hôn nhân thực tế là hôn nhân có đủ điều kiện kết hôn về nội dung, chỉ vi phạm điều kiện về hình thức là không có đăng ký kết hôn. Các điều kiện về nội dung là: có tổ chức lễ cưới khi về sống chung với nhau; việc chung sống với nhau được gia đình (một hoặc cả hai bên) chấp nhận; việc chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến; họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình.

Tuy nhiên, nếu những người đã chung sống với nhau như vợ chồng (hôn nhân thực tế) trước ngày 03-01-1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn, còn đối với những người chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03-01-1987 đến ngày 01-01-2001 trở đi nếu nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được công nhận là vợ chồng.

Việc chấm dứt quan hệ hôn nhân có thể do nhiều nguyên nhân như: một trong hai người chết (kể cả trường hợp chết về mặt pháp lý do Tòa án quyết định); đã ly hôn do Tòa án công nhân hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng mà bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; đã bị Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật. Tuy nhiên, nếu quan hệ hôn nhân đang tồn tại là quan hệ hôn nhân trái pháp luật mà một trong hai người tự ý kết hôn hoặc chung sống với nhau như vợ chồng với người khác thì không phải là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

Kết hôn với người khác trái pháp luật là hành vi lừa dối các cơ quan nhà nước để đăng ký kết hôn hoặc tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán; người phạm tội có thể lừa dối đối với người mà mình kết hôn như: nói dối là mình chưa có vợ, chưa có chồng hoặc tuy đã có vợ hoặc có chồng nhưng nói dối là đã ly hôn hoặc đã chết làm cho người mà mình định kết hôn tin mà đồng ý kết hôn. Tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp cả hai người (nam và nữ) đều biết nhau đã có vợ hoặc đã có chồng nhưng vẫn cố tình lừa dối cơ quan nhà nước để được kết hôn trái pháp luật.

Nếu một trong hai người (nam hoặc nữ) bị lừa dối mà đồng ý kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người có hành vi gian dối thì chỉ người có thủ đoạn gian dối mới bị coi là vi phạm chế độ một vợ, một chồng, còn người bị lừa dối không phạm tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng.

Hành vi chung sống như vợ chồng với người khác là hành vi của nam và nữ không có đăng ký kết hôn nhưng về sống chung với nhau như vợ chồng, có thể có tổ chức lễ cưới hoặc không tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán; gia đình có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; họ sống với nhau như vợ chồng một cách công khai, mọi người xung quanh đều biết và cho rằng họ là vợ chồng.

Sẽ không phải là chung sống như vợ chồng nếu như nam và nữ lén lút quan hệ tình dục với nhau theo quan niệm mà xã hội gọi là “ngoại tình”.

Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có vợ, có chồng là trường hợp người chưa có vợ, chưa có chồng biết rõ người khác đã có chồng, đã có vợ nhưng vẫn kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người này.

Người chưa có vợ hoặc chưa có chồng là người chưa kết hôn lần nào hoặc đã kết hôn nhưng đã ly hôn hoặc một trong hai người (vợ hoặc chồng) đã chết hoặc được Tòa án tuyên bố là đã chết. Điều luật quy định người chưa có vợ, chưa có chồng, nhưng bao gồm cả những người đã có vợ hoặc đa có chồng nhưng vợ hoặc chồng đã chết, đã ly hôn hoặc đã bị Tòa án hủy hôn nhân trái pháp luật.

Khi kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đã có chồng hoặc có vợ, người phạm tội phải biết rõ người mà mình kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng là người đang có chồng hoặc có vợ. Nếu không biết rõ không phải là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Thông thường, trường hợp này người chưa có vợ, chưa có chồng (nhất là người chưa có chồng) bị người đang có vợ hoặc đang có chồng lừa dối nên mới kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người này.

Biết rõ là biết một cách chắc chắn, không có nghi ngờ gì về người mà mình kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng là họ đang có chồng hoặc đang có vợ, có thể do chính người đang có chồng hoặc có vợ nói cho biết hoặc thông qua người khác nói cho biết, hoặc tự tìm hiểu qua nhiều nguồn nên biết.

Các hành vi trên chỉ cấu thành tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng khi người có hành vi đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm hoặc Đã có bản án, quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó

Đã bị xử lý hành chính về hành vi này mà còn vi phạm là trước đó đã có lần vi phạm chế độ một vợ, một chồng, đã bị xử lý hành chính bằng một trong những hình thức xử phạt hành chính hoặc bằng một trong những hình thức xử lý hành chính khác theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính, nay lại có hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Nếu trước đó người phạm tội tuy có bị xử lý hành chính, nhưng về hành vi khác không phải là hành vi trên thì không cấu thành tội phạm này.

b) Hậu quả

Hậu quả của tội phạm này:

– Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn

– Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát

4. Các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm

Người phạm tội thực hiện hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng, thấy trước được hậu quả nghiêm trọng nhất định xảy ra hoặc có thể xảy ra, mong muốn cho hậu quả xảy ra hoặc cho hậu quả xảy ra. Đối với tội tội phạm chế độ một vợ, một chồng, người phạm tội thường bỏ mặc cho hậu quả nghiêm trọng xảy ra, miễn là được chung sống như vợ chồng với nhau.

VT

Trên đây là bài viết của Luật Emerald về thắc mắc về “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình”. Nếu các bạn cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, các bạn có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.

Tư vấn pháp luật