Thời hạn chuẩn bị xét xử là khoảng thời gian xác định mà trong khoảng thời gian này Tòa án tiến hành các công việc, điều kiện cần thiết để xét xử vụ án. Quy định rõ thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án nhằm tạo điều kiện cho Tòa án giải quyết vụ án kịp thời để bảo vệ lợi ích của các đương sự. Để hiểu rõ hơn về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự theo quy định của pháp luật, quý bạn đọc hãy cùng Luật Emerald tìm hiểu nhé.
1. Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
Khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự quy định thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các loại vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, như sau:
1.1. Các vụ án kể từ ngày thụ lý vụ án có thời hạn chuẩn bị xét xử là 04 tháng
– Tranh chấp quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân;
– Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản;
– Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự;
– Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
– Tranh chấp về thừa kế tài sản;
– Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
– Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật về cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính;
– Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật tài nguyên nước;
– Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng;
– Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí;
– Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu;
– Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;
– Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;
– Các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật;
– Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn;
– Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân;
– Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn;
– Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ;
– Tranh chấp về cấp dưỡng;
– Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo;
– Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật;
– Các tranh chấp khác về hôn nhân gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Lưu ý: Trường hợp các vụ án trên có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng thời hạn gia hạn không được quá 02 tháng.
Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

1.2. Các vụ án kể từ ngày thụ lý vụ án có thời hạn chuẩn bị xét xử là 02 tháng
– Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;
– Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;
– Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty;
– Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty;
– Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật;
– Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động mà hòa giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hòa giải không thành hoặc không hòa giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp lao động không bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải;
– Tranh chấp lao động tập thể về quyền giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định đó hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện không giải quyết;
– Tranh chấp liên quan đến lao động bao gồm:
+ Tranh chấp về học nghề, tập nghề;
+ Tranh chấp về cho thuê lại lao động;
+ Tranh chấp về quyền công đoàn, kinh phí công đoàn;
+ Tranh chấp về an toàn lao động, vệ sinh lao động.
– Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do đình công bất hợp pháp;
– Các tranh chấp khác về lao động, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Lưu ý: Trường hợp các vụ án trên có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng thời hạn gia hạn không được quá 01 tháng.
Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán
Theo quy định tại khoản 2 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
– Lập hồ sơ vụ án;
Hồ sơ vụ án dân sự bao gồm:
+ Đơn và toàn bộ tài liệu, chứng cứ của đương sự, người tham gia tố tụng khác;
+ Tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập liên quan đến vụ án;
+ Văn bản tố tụng của Tòa án, Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án dân sự.
Các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ vụ án dân sự phải được đánh số bút lục, sắp xếp theo thứ tự ngày, tháng, năm. Giấy tờ, tài liệu có trước thì để ở dưới, giấy tờ, tài liệu có sau thì để ở trên và phải được quản lý, lưu giữ, sử dụng theo quy định của pháp luật.

– Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác;
– Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng;
– Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án;
– Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Xem thêm bài viết Xác định chứng cứ trong tố tụng dân sự tại đây.
– Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
– Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn;
– Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Bên cạnh đó, trong thời hạn chuẩn bị xét xử, tùy từng trường hợp, Thẩm phán sẽ ra một trong các quyết định sau đây:
– Công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự;
– Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
– Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
– Đưa vụ án ra xét xử.
Mỹ Duyên
Trên đây là chia sẻ của Luật Emerald về “Thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự”. Nếu Quý vị cần giải đáp thắc mắc hoặc cần tư vấn về các vấn đề pháp lý, Quý vị có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com để được hỗ trợ, giải đáp kịp thời. Trân trọng cảm ơn.