Em kết hôn 2018, sau khi cưới về thì phía nhà chồng em có cho miếng đất cất nhà, đến năm 2022 vợ chồng em bán miếng đất đó được 4 tỉ. Em gửi ngân hàng 2 tỷ, còn 2 tỷ thì mua đất: 900 triệu, mua xe 700 triệu, còn lại chi tiêu trong gia đình. Vừa rồi vợ chồng em có mua một ngôi nhà và em đã rút hết tiền trong ngân hàng để mua. Tuy nhiên, ngôi nhà mới này chỉ đứng tên một mình chồng em. Vậy, ngôi nhà này sẽ là tài sản chung hay riêng? Bây giờ em muốn đứng tên ngồi nhà đó thì phải làm sao? Chiếc xe cũng đứng tên chồng em, chiếc xe là tài sản chung hay riêng?
Người gửi: chị Hạnh
Trả lời
1. Xác định tài sản chung – tài sản riêng
Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”
Theo đó, anh chị được bên nhà chồng cho đất sau khi kết hôn nên đây được xác định là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp có minh chứng rằng phần đất đó được tặng riêng cho chồng chị thì đây là tài sản riêng của chồng chị.
Vì vậy,
– Trong trường hợp là tài sản chung
Nếu không có minh chứng rằng phần đất đó được tặng riêng cho chồng chị, các tài sản phát sinh sau đó từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua nhà, mua xe và mua đất cũng như tiền gửi ngân hàng và lợi tức từ lãi suất gửi ngân hàng đều là tài sản chung. Vì thế, nhà và xe dù chỉ đứng của chồng thì vẫn được xác định là tài sản chung của hai vợ chồng.
– Trong trường hợp là tài sản riêng
Nếu bên nhà chồng và chồng chị chứng minh được rằng phần đất đó là tặng riêng cho chồng chị thì phần đất này được xác định là tài sản riêng của chồng. Vậy nên phần tiền nhận được sau chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản được hình thành từ tài sản riêng – không thuộc các trường hợp xác định là tài sản chung theo điều luật trên – nên đó vẫn là tài sản riêng của chồng chị. Vì vậy, nếu không có thỏa thuận tài sản chung,
+ Phần đất 900 triệu và chiếc xe 700 triệu là tài sản riêng của chồng vì đây là tài sản có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
+ Về phần căn nhà mua từ phần tiền rút hết từ ngân hàng:
+ Do tiền gửi ngân hàng sẽ phát sinh lãi, và phần lãi này là lợi tức từ tài sản riêng nên sau hôn nhân nên phần lãi được xem là tài sản chung của vợ chồng. Nếu phần tiền mua nhà có bao gồm cả phần lãi phát sinh thì căn nhà này là tài sản chung của vợ chồng;
+ Nếu tiền mua nhà chỉ gồm tiền gốc gửi ngân hàng – tức tài sản riêng của chồng – thì căn nhà thuộc sở hữu riêng của chồng.
2. Muốn cùng đứng tên căn nhà với chồng thì phải làm sao?
Để cùng chồng đứng tên trên căn nhà, chị cùng chồng đến nộp hồ sơ tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại UBND cấp huyện hoặc bộ phận một cửa. Bộ hồ sơ gồm những giấy tờ sau:
– Giấy đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
– Giấy đăng ký kết hôn hoặc sổ hộ khẩu;
– Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
– CCCD/CMND của cả hai vợ chồng;
– Những giấy tờ khác có liên quan.
Trên đây là câu trả lời của Luật Emerald, nếu các bạn còn thắc mắc hoặc không rõ các bạn có thể liên hệ trực tiếp đến hotline 1900 299 289 hoặc tiếp tục gửi câu hỏi đến website emeraldlawfirm.vn hoặc email Emerald.VAA@gmail.com